Thứ Ba, 16/10/2018 10:38 Sáng

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Bạn đọc viết
Một sưu tập rất quý giá: Tổng tập tản văn Ngô Tất Tố


 Dày 1.200 trang sách cỡ 20cm x 30cm, chắc chắn Tổng tập tản văn Ngô Tất Tố là một trong số ít tổng tập có khối lượng chữ lớn nhất trong số các tổng hoặc toàn tập của một tác giả, từ trước cho đến nay.

Tổng tập, chỉ riêng cho tản văn (chứ không tính các thể loại khác như chính luận, phóng sự...), gồm khoảng 1.200 bài Ngô Tất Tố viết liên tục trong hơn 17 năm, kể từ 1928 đến 1945, trên 11 loại báo, được bố cục trong 3 phần, ứng với 3 giai đoạn viết:

- 1928 - 1933: Trên các báo Phổ thông (1930 - 1931), Đông Phương (1931), Công luận, Đuốc Nhà Nam (1932), Thực nghiệp dân báo (1933).

- 1934 - 1940: Trên các báo Công dân (1935), Tương lai (1937), Thời vụ (1938 - 1939), Con ong (1939 - 1940), Trung Bắc chủ nhật (1940).

- 1941 - 1945: Trên báo Đông Pháp.

bỉnh bút, chứ không phải chủ bút, Ngô Tất Tố cộng tác cùng lúc nhiều loại báo, qua đó cập nhập, tiếp cận, giải quyết rất nhiều vấn đề xã hội đặt ra cho đời sống báo chí trong hai thập niên trước 1945, nếu tính từ khi ông được Tản Đà mời ra Hà Nội viết cho An Nam tạp chí và sau đó cùng Tản Đà, được Diệp Văn Kỳ mời vào Nam Kỳ viết cho Đông Pháp thời báoThần chung.

Một cây bút viết trên hơn 11 loại  báo, liên tục ngót 20 năm, vào một thời sôi động nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam; cũng là khi diện mạo hiện đại của văn chương - học thuật dân tộc đạt đến độ hoàn thiện.

Thời phong trào báo chí đóng vai trò là bà đỡ hoặc điểm tựa cho sự phát triển của văn chương - học thuật; mỗi người viết qua báo chí mà tiếp cận, gắn bó với thực tế; đồng thời qua báo chí để thử nghiệm các loại hình viết và rèn giũa kỹ năng viết trước nhu cầu rất đa dạng của nhiều loại công chúng trong sự phát triển gấp rút của đời sống đô thị.

Nhiều chục năm trước đây, trong nhận thức của chúng ta, Ngô Tất Tố trước hết là một nhà văn hiện thực hàng đầu, với các tiểu thuyết Tắt đèn, Lều chõng, và với các phóng sự Việc làng, Tập án cái đình. Sinh năm 1894, ông thuộc thế hệ Cựu học, không có Tây học, thế nhưng vẫn có thể  sánh vai và đồng hành cùng những kiện tướng của trào lưu văn học hiện thực như Nguyễn Công Hoan (sinh 1903), Vũ Trọng Phụng (sinh 1912), Nam Cao (sinh 1915), Nguyên Hồng (sinh 1918), và Tô Hoài (sinh 1920)... Trong chênh lệch tuổi đời ngót 30 năm, ông vẫn là gương mặt tiên phong song hành cùng các thế hệ đến sau, bởi những sáng tạo văn chương đạt đến giá trị cao của tư duy nghệ thuật hiện đại. Đây là một kỷ lục rất hiếm có, khi đời sống văn chương dân tộc đã thoát ra khỏi tình thế giao thời mà chuyển vào thời hiện đại, khiến cho Vũ Trọng Phụng - “ông vua phóng sự đất Bắc”, tác giả của Số đỏ, Giông tố bất hủ, thuộc lớp hậu sinh sau ông 20 năm, đã phải dành những lời khen cao nhất cho Ngô Tất Tố trên cả hai phương diện tiểu thuyết và báo chí; về tiểu thuyết thì Tắt đèn là “một áng văn có thể gọi là tuyệt tác, tùng lai chưa từng thấy”, còn về báo chí thì họ Ngô là “một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà Nho”.

Hãy từ các tên báo mà ông tham gia, các bút danh mà ông sử dụng, các chuyên mục mà ông phụ trách; hãy từ các địa danh khắp trong Nam ngoài Bắc - trước hết là Sài Gòn và Hà Nội, mà ông đã ghé đến, hoặc ở lại, chúng ta sẽ thấy sự dày dặn của kinh nghiệm và hiệu quả của cây bút sắt trong tay ông đầu Xứ họ Ngô. Từ Tổng tập có thể rút ra rất nhiều bài học quý giá mà Ngô Tất Tố đã trải nghiệm và tích lũy ở tư cách vừa là người mở đường, người đi đầu, vừa vẫn là người đồng hành với chúng ta hôm nay.

* * *

Trong nửa đầu thế kỷ XX ở nước ta, dưới chế độ kiểm duyệt của chính quyền thực dân, khó tránh tồn tại nhiều vùng cấm, mà nếu đụng phải thì không chỉ báo chí bị đình bản, mà người viết có thể bị vạ. Nhưng trên tinh thần dân tộc, và mối quan tâm sâu sắc đối với quyền sống và lợi ích của nhân dân, qua phương tiện báo chí mà họ Ngô rất có ý thức và dày công vận dựng, người đọc vẫn có thể hình dung gương mặt xã hội thuộc địa, hoạt động của đời sống công quyền, cùng cảnh ngộ của các tầng lớp dân chúng, ở mọi góc khuất của nó.

Đánh giá thành tựu và đóng góp của Ngô Tất Tố trên lĩnh vực báo chí đã có nhiều bài viết, luận văn, công trình, chương trình nghiên cứu các cấp trong nhiều chục năm qua. Đọc Tổng tập càng thấy rõ chân dung nhà báo Ngô Tất Tố, với những đặc sắc riêng, vừa với sự bổ sung làm nên sự trọn vẹn một chân dung tổng thể gồm ba phương diện: nhà báo, nhà văn, nhà văn hóa Ngô Tất Tố. Đọc Tổng tập có thể hình dung những chuyển động xã hội đã diễn ra trong hai thập niên trước 1945. Kho tản văn Ngô Tất Tố là một pho lịch sử; đúng hơn một pho xã hội sử. Chính vì vậy biên soạn bộ “tổng tập” này theo thứ tự thời gian là hợp lý nhất. Trong pho “xã hội sử” này, mỗi bài viết dù rất ngắn gọn, bạn đọc cũng dễ nhận ra khối học vấn và tài năng diễn giải đặc biệt của tác giả.

Ở đây tôi chỉ xin nêu lại, hoặc nhấn mạnh mấy đóng góp lớn trong văn báo chí của ông.

Trước hết Ngô Tất Tố là cây bút có dũng khí đương đầu với bất kỳ thế lực nào, với bất kỳ ai nhằm phanh phui mọi ngang trái, bất công để bảo vệ đến cùng lẽ phải và tiến bộ.

Với tản văn, Ngô Tất Tố đã từng đối thoại, đĩnh đạc tranh luận tay đôi với nhiều chính khách, học giả, đồng nghiệp có danh tiếng ở nước ta hồi đầu thế kỷ trước như: Bùi Bằng Đoàn, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Trần Huy Liệu, Đào Duy Anh, Phan Khôi, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Khắc Hiếu...

 Điều đặc biệt hơn nữa, Ngô Tất Tố còn rất dũng cảm và sắc sảo trong việc vạch mặt, phê phán - không chỉ một lần bộ máy công quyền. Đối tượng phê phán và chế giễu của ông là các cấp cao, thậm chí là cao nhất như các Toàn quyền Brévié, Robin; Thống sứ Bắc Kỳ Tholance; Thống đốc Nam Kỳ Pagès, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, Đại sứ Godard. Là các quan chức cấp cao và thân cận của Nam triều như Ngô Đình Diệm, Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Năng Quốc, Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh... Là Viện trưởng Viện Dân biểu Phạm Huy Lục. Và cả cái Viện bù nhìn do Tây lập ra, mà theo Ngô Tất Tố thì còn “chờ gì nữa mà chưa giải tán” nó đi! Không kể từ quan tỉnh trở xuống đến các tầng lớp cường hào, nha lại quá quen thuộc trong nghề đục khoét mà ông thuộc đến từng chân tơ, kẽ tóc. (Còn nhớ trong văn học miền Bắc thập niên 60, việc nêu những mặt tiêu cực trong bộ máy chính quyền, gắng gỏi lắm, hoặc dũng cảm lắm như  Nguyễn Khải, cũng chỉ mới đến... cấp huyện. Phải hơn 40 năm sau, sang thế kỷ XXI, mới có thể động đến... cấp tỉnh).

Điểm nhấn thứ hai: trong toàn cảnh phân hóa rất lớn về các giai tầng trong xã hội đương thời ở nước ta, Ngô Tất Tố là cây bút hiếm có, đã đồng thời quan tâm đặc biệt đến hai lớp người đông đảo nhất là dân cày ở nông thôn và dân nghèo thành thị. Dẫu có sự nhìn nhận sắc sảo những hủ phong hủ tục trong đời sống thôn quê - để có Việc làng, Tập án cái đình..., nhưng trước sau, tình cảnh và số phận của người nông dân chiếm 95% số dân và nông thôn Việt Nam, vẫn là đối tượng giàu thương cảm nhất của ngòi bút Ngô Tất Tố. Một tỷ lệ lớn sự nghiệp báo chí của ông là những bài về nông dân, nông thôn, và về lớp dân nghèo thành thị. Báo chí cũng là nơi chuyển tải những áng văn hay nhất, và tiêu biểu nhất về nông thôn của ông như Tắt đèn, Nghệ thuật làm no hay cái ăn trong những ngày nước ngập... Người nông dân với đất đai, với sưu thuế, với cái đói thường trực, với quyền sống bị tước đoạt, với nhân phẩm bị chà đạp... đó là chủ đề thường trực trong văn Ngô Tất Tố.

Nông dân và nông thôn Việt Nam, kể từ Ngô Tất Tố cho đến nay - đầu thế kỷ XXI vẫn nhức nhối bao chuyện đau lòng, trên con đường đến với hạnh phúc ấm no, và mục tiêu dân giàu nước mạnh...

* * *

Một sức viết thật cường tráng. Chỉ riêng văn báo chí, đã là một lượng trang đồ sộ, tôi nghĩ khó ai là người đương thời, và cho đến hôm nay sánh được.

Phải một chuyên tâm rất lớn, một bền bỉ thường xuyên trong theo dõi thời cuộc, và một kỹ năng viết rất điêu luyện mới có thể hàng ngày, hàng tuần đều đặn có bài, không chỉ cho một mà nhiều loại báo, với các tôn chỉ và đối tượng bạn đọc khác nhau.

Để hiểu điều này cần tìm đến sự giải thích ở một bối cảnh, một không gian hoạt động đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao cho nghề viết, phải đến lúc này - trước sau 1930 đến 1945, mới thực sự được xem là một nghề. Không gian ấy vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho con người phát huy mọi nỗ lực trong tìm tòi, sáng tạo để có thể tồn tại, hơn thế, để có được chỗ đứng trong cạnh tranh, khiến cho những gì qua cạnh tranh mà tồn tại được sẽ có sự sống trong lòng công chúng.

Qua Tổng tập, ta càng có dịp nhận ra một cách đầy đủ và trọn vẹn hơn khối lao động khổng lồ và có hiệu quả của một thế hệ, mà tôi muốn gọi là thế hệ Vàng, gồm từ Ngô Tất Tố (sinh 1894), Khái Hưng (sinh 1896)... đến Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài (sinh 1920)... một thế hệ đã đến đúng lúc để đưa văn chương - học thuật dân tộc vào quỹ đạo hiện đại.

* * *

Điều cuối cùng tôi muốn nói - đó là một may mắn lớn khi hôm nay chúng ta có được Tổng tập tản văn quý giá này. Bởi rất có thể nó sẽ không xuất hiện, nếu không có công sưu tập hàng chục năm trời, qua hầu khắp các thư viện công và tư, trong Nam, ngoài Bắc và cả kho báo tiếng Việt ở nước ngoài, với bao là khổ công sưu tầm, sao chụp, ghi chép, sắp xếp, biên tập của hai người thân trong gia đình tác giả - là con rể Cao Đắc Điểm và con gái Ngô Thị Thanh Lịch. Điều chắc chắn là nếu không có công sưu tầm, biên soạn, giới thiệu và chú giải của hai tác giả; hoặc nếu công việc đó chậm triển khai vài năm, chỉ vài năm thôi, thì hẳn chắc sẽ chưa có, hoặc sẽ không bao giờ có tổng tập này. Nghĩ vậy mới thấy đây là một sưu tập quý giá, thậm chí là vô giá.

Một công trình cũng tương tự như thế, vừa được Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành năm 2006, là 3 tập Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, 1700 trang - nhờ vào công lưu giữ trên ba chục cuốn sổ tay trong hơn ba mươi năm của bà vợ là Trịnh Thị Uyên và công biên tập của người con trai Nguyễn Huy Thắng. Một bộ nhật ký, tác giả viết liên tục từ 1930 cho đến khi qua đời - 1960.

Không biết ngoài Ngô Tất Tố, Nguyễn Huy Tưởng có còn nhà văn nào thuộc thế hệ trước 1945 để lại một di cảo lớn như thế không mà không được lưu giữ, hoặc chưa được phát hiện?

Thế nhưng, ngoài công lưu giữ hoặc sưu tập của những người thân trong gia đình, còn phải tính đến đóng góp của nhà xuất bản - ở đây là Nhà xuất bản Thông tin Truyền thông, tuy mới chỉ có 15 năm tuổi, nhưng lại có “vùng phủ sóng” khá rộng; một nhà xuất bản rất có nhiệt tâm và biết nhìn ra các giá trị lớn về phương diện văn hóa, tinh thần của các di cảo, để đem đến cho công chúng hôm nay, và lưu giữ cho đời sau.

Đó là điều rất đáng trân trọng, trong tình hình hiện nay khi những tính toán cho lỗ lãi về vật chất, tiền nong đang là sức ép lớn cho hoạt động báo chí, xuất bản.

Tất nhiên đây là một cuốn sách không phải dễ đọc cho mọi tầng lớp, nên lượng in chỉ là 500 bản. Nhưng nó lại là sản phẩm rất cần, rất quý cho những ai quan tâm đến việc tìm hiểu, nghiên cứu nhiều phương diện của đời sống văn hóa, tinh thần Việt Nam thời hiện đại. Có thể xem đây là những tài liệu tin cậy cho nhiều khoa học như xã hội học, văn hóa học, phong tục học, dân tộc học... Không chỉ là tấm gương trung thành của một thời, cách đây trên hai phần ba thế kỷ, mà vẫn còn rất cần cho việc hiểu chính đời sống hôm nay. Rất nhiều chuyện đời lớn hoặc nhỏ trong các chuyên mục: Gặp đâu nói đấy, Nói giữa trời, Thật hay bỡn, Ném bùn sang ao, Nói chơi, Nói hay... đừng,... không chỉ là chuyện diễn ra chỉ vào thời ấy mà vẫn còn in rất đậm dấu ấn thời sự, trên khắp mặt đời sống công quyền; đình chùa và lễ hội; y tế và giáo dục; báo chí và văn chương; thôn quê và kẻ chợ... Cả một toàn cảnh thật là sống động qua ngòi bút “tả chân” siêu việt của Ngô Tất Tố, từ tệ chạy danh chạy lợi ở các nha môn; quấy rối tình dục trong học đường, các cuộc đụng độ gay gắt về hôn nhân, gia đình; mê tín dị đoan, tục đốt vàng mã trong các lễ hội; lừa bịp trong quảng cáo... tất cả đã được tài tình dựng thành các cuộc chơi, làm nên sân chơi hấp dẫn trên mặt báo, theo cách nói quen thuộc bây giờ. Hãy nghe Thục Điểu viết trong mục Nói chơi (1931): “Cuộc đời chỉ là chỗ “trò chơi” của các đấng siêu việt, người đời chỉ là kẻ “làm đồ chơi” cho các đấng ấy”... Cùng với biết bao nhiêu là cách chơi: “Anh hùng hào kiệt chơi bằng sự nghiệp thanh danh, đại thánh đại hiền chơi bằng luân lý đạo đức, các nhà chính trị chơi bằng lưới phép cạm hình, các nhà võ bị chơi bằng máy bay tàu chiến, nhà săn bắn chơi bằng súng, nhà kiếm hiệp chơi bằng gươm, bọn đổ bác chơi bằng lá bạc quân bài, khách hoa nguyệt chơi bằng tiếng hát cung đàn, gái giang hồ chơi bằng màu son nước phấn... Thục Điểu cũng sinh ra ở cái bầu “chơi” này, lẽ tất nhiên là phải chơi, nhưng Thục Điểu không chơi bằng những món kia mà chơi bằng lời nói”.

Kể từ Ngô Tất Tố cho đến nay, cuộc sống vẫn đang trong một dòng chảy xuyên suốt, với các mặt trong đục của nó. Vẫn cứ là một cuộc chơi lớn trên khắp mặt các sân khấu lớn nhỏ. Cho đến nay Ngô Tất Tố vẫn là người cùng thời với chúng ta./.
                                                                                                               Tây Hồ 5/3/2013